<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/assets/css/rss.xsl" media="screen"?>
<rss version="2.0"
    xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
    xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
    xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
>
    <channel>
        <title>Bản tin KH&amp;CN - Khoa học và công nghệ &#40;số 1,2 - 2020&#41;</title>
        <link>https://dost.haiphong.gov.vn/ban-tin-kh-cn/khoa-hac-va-cang-ngha-sa-1-2-2020/</link>
        <atom:link href="https://dost.haiphong.gov.vn/ban-tin-kh-cn/rss/khoa-hac-va-cang-ngha-sa-1-2-2020/" rel="self" />
                <description>
            <![CDATA[Sở Khoa hoc và Công nghệ tỉnh Hải Dương]]>
        </description>
        
        <language>vi</language>
                <pubDate>Mon, 31 Aug 2020 19:08:01 GMT</pubDate>
        <lastBuildDate>Mon, 31 Aug 2020 19:08:01 GMT</lastBuildDate>
        
        <copyright>
            <![CDATA[Chuyên trang khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo]]>
        </copyright>
        <docs>https://dost.haiphong.gov.vn/rss/</docs>
        <generator>
            <![CDATA[NukeViet v4.0]]>
        </generator>
                <image>
            <url>https://dost.haiphong.gov.vn/uploads/logo-so.png</url>
            <title>Bản tin KH&amp;CN - Khoa học và công nghệ &#40;số 1,2 - 2020&#41;</title>
            <link>https://dost.haiphong.gov.vn/ban-tin-kh-cn/khoa-hac-va-cang-ngha-sa-1-2-2020/</link>
            <width>144</width>
            <height>146</height>
        </image>
        
                <item>
            <title>Giống lúa nếp NT 202 năng suất cao, chống chịu sâu bệnh</title>
            <link>https://dost.haiphong.gov.vn/ban-tin-kh-cn/khoa-hac-va-cang-ngha-sa-1-2-2020/giang-laa-nap-nt-202-nang-suat-cao-chang-chau-sau-banh-12659.html</link>
                        <guid isPermaLink="false">
                <![CDATA[ban-tin-kh-cn_12659]]>
            </guid>
            
                        <pubDate>Mon, 31 Aug 2020 19:08:01 GMT</pubDate>
            
            
            <description>
                <![CDATA[<img src="https://dost.haiphong.gov.vn/uploads/ban-tin-kh-cn/" width="100" align="left" border="0"><p style="text-align: justify;">
	Trong những năm gần đây, các sản phẩm sử dụng gạo nếp làm nguyên liệu vô cùng phong phú từ dùng để nấu cơm, nấu xôi, nấu rượu, làm kẹo mạch nha, làm cốm&hellip;Gạo nếp còn để làm ra nhiều loại bánh khác nhau như bánh chưng, bánh giầy, bánh tầy, bánh tét, bánh phu thê, bánh gai, bánh dẻo, bánh ít, bánh khúc, bánh nếp, bánh rán, bánh trôi, bánh chay...Giống lúa nếp DT22 có năng suất cao, chất lượng tốt, xôi thơm nhưng thời gian sinh trưởng còn thuộc nhóm trung ngày.Năm 2019 được sự cho phép của UBND tỉnh, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã thực hiện đề tài &ldquo;Xây dựng mô hình trình diễn giống lúa nếp mới NT 202 năng suất cao, chống chịu sâu bệnhtrên địa bàn tỉnh Hải Dương&rdquo; do thạc sỹ Trần Thị Yến làm chủ nhiệm, nhằm xây dựng mô hình sản xuất giống lúa nếp NT 202 đạt năng suất trung bình 5,5 - 6 tấn/ha, tăng hiệu quả kinh tế tăng từ 10 - 15% so với giống DT22 và hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa NT 202 trên địa bàn tỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
	Ban chủ nhiệm đề tài đã xây dựng mô hìnhvới quy mô 100 hatrên địa bàn các huyện Bình Giang, Thanh Miện, Gia Lộc, Nam Sách. Giống lúa nếp NT202 được lai tạo từ tổ hợp lai N87-2/DT22và được chọn lọc theo phương pháp phả hệ trong đó giống mẹ là giống nếp N87-2 (N98) có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh hại tốt đặc biệt bệnh bạc lá, đạo ôn, có xôi mềm, không thơm và đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho sản xuất thử theo Quyết định số 20/QĐ-TT-CLT ngày 22/01/2018.</p>
<p style="text-align: justify;">
	Giống nếp NT202 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm ngắn ngày, ngắn hơn 12 - 14 ngày so với giống lúa nếp DT22 trong vụ xuân và 10 - 15 ngày trong vụ mùa. Cây cao tương đương với NT22, kiểu đẻ nhánh V, sức đẻ nhánh khá, bộ lá màu xanh, hạt màu vàng sẫm, thời gian trỗ trung bình 5 - 7&nbsp; ngày và trỗ thoát, khối lượng 1000 hạt nhỏ hơn đối chứng 2 - 3 gram, tỷ lệ hạt chắc cao trên 90%, rất cứng cây, bông to và dài hơn DT22, số lượng hạt/bông cao hơn DT 22, nhiều hơn DT 22 từ 15 - 25 hạt/bông, có kiểu cây đẹp, dạng bông và hạt có tiềm năng cho năng suất cao, chống chịu khá với đạo ôn.</p>
<p style="text-align: justify;">
	&nbsp;Vụ xuân 2019, giốnglúanếp NT 202 chống chịu tốt với rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, chịu rét, chống đổtốt, chống chịu khá với đạo ôn lá và đạo ôn cổ bông; khô vằn, chống chịu tốt với rầu nâu; sâu cuốn lá và sâu đục thân tốt hơn so với đối chứng DT 22. Giống lúa nếp NT 202 khả năng thích ứng rộng khi sinh trưởng và phát triển tốt trên các chân đất vàn, vàn thấp và vàn cao tại các huyện Bình Giang, Thanh Miện, Nam Sách và Gia Lộc có khả năng chống chịu khá với các loại sâu bệnh hại chính trong điều kiện tự nhiên,thích ứng trên các chân đất vàn, vàn cao và vàn thấp.Tỷ lệ % các nhóm hộ gieo cấy giống nếp NT 202 đạt năng suất từ 55 - 60 tạ/ha chiếm tỷ lệ từ 40,6 - 66,9%; Nhóm đạt năng suất từ 60 - 65 tạ/ha chiếm tỷ lệ từ 27,9 - 43,9%; Hai nhóm đạt năng suất > 65 tạ/ha và < 55 tạ/ha chiếm tỷ lệ nhỏ từ 0% - 9,2%.</p>
<p style="text-align: justify;">
	Vụ mùa năm 2019, giống lúa nếp NT202 chống đổ tốt nên thuận tiện cho thu hoạch bằng máy, giảm chi phí cho người sản xuất, chống chịu tốt với đạo ôn cổ bông, với bệnh bạc lá, khô vằn, rầu nâu,sâu cuốn lá và sâu đục thân và có khả năng thích ứng rộng khi sinh trưởng và phát triển tốt trên các chân đất vàn, vàn thấp và vàn cao tại các huyện Thanh Miện, Nam Sách và Gia Lộc có khả năng sinh trưởng tốt, đẻ nhánh đều, bông đồng đều, trỗ nhanh và vào chắc nhanh; bông to và dài hơn DT 22, số lượng hạt/bông cao hơn 15 - 25 hạt/bông, đạt 259,7 bông hữu hiệu/m2, tỷ lệ hạt chắc trung bình đạt trên 94,0%. Khối lượng đạt 23,2 gram/1000 hạt, hạt nhỏ hơn đối chứng DT 22, năng suất thực thu trong vụ xuân đạt 60,4 tạ/ha, năng suất cao hơn đối chứng DT 22 từ 8 - 17%, năng suất trung bình cao hơn giống đối chứng 12%. Giống lúa nếp NT202 sinh trưởng tốt, đẻ nhánh khỏe và đều, bông to, hạt chắc cao. Số hạt/bông khá ổn định đạt từ 142,9 - 160,2 hạt/bông cao hơn đối chứng DT 22 từ 12 - 25 hạt/bông. Tỷ lệ hạt chắc đạt trên 90%. Khối lượng đạt trung bình 23,1 gram/1000 hạt, năng suất đạt 61,2 tạ/ha cao hơn giống đối chứng DT 22 từ 7 - 15%, năng suất trung bình cao hơn giống đối chứng 11%.</p>
<p style="text-align: justify;">
	Vụ Mùanăm 2019, giống lúa nếp NT 202 cho năng suất ổn định ở cả 2 vụ,tỷ lệ gạo sát 202 đạt 71,5 - 73%&nbsp; cao tương đương với đối chứng DT22 71,3 - 73,2%; Tỷ lệ gạo nguyên từ 56,9 - 60,6% và tương đương giống DT 22 57 - 60,4%; Hàm lượng Amylose khá ổn định đạt từ 4,6-4,9% và tương đương giống DT 22 4,5 - 4,9%. Chất lượng thử nếm xôi cho thấy xôi màu trắng, bóng, có độ mềm, độ dính, hơi thơm và vị ngon tương đươngvới giống đối chứng DT22. Chất lượng gạo sát của giống nếp NT202 vụ mùa thấp hơn vụ xuân đạt 70,8 - 72,2 % tương đương với đối chứng DT22 71 - 73,5%; Tỷ lệ gạo nguyên cao hơn vụ xuân đạt từ 62 - 63,3% và cũng tương tự như giống DT22 62,5 - 63,5%. Hàm lượng Amylose ổn định, tỷ lệ gạo xát và gạo nguyên cao trong cả hai vụ gieo trồng, xôi dẻo, đậm, mềm, thơm nhẹ, có tiềm năng làm các loại bánh tương tự như DT22.</p>
<p style="text-align: justify;">
	Giống nếp mới NT 202 có thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu tốt với&nbsp; đạo ôn và rầy nâu, khả năng chống đổ tốt, phù hợp với chân đất vàn, vàn thấp và vàn cao, tỷ lệ xay xát cao, chất lượng xôi mềm, dẻo ngon, phù hợp cho chế biến nhiều loại bánh, đáp ứng yêu cầu của thị trường; đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn 16 - 18% so với khi canh tác giống DT 22. Với giá bán thóc 9.800 đồng/kg thóc khô, vụ xuân 2019 giống lúanếp NT 202 thu được lãi ròng là 36.112.000 đồng/ha, tương đương với 1.298.000 đồng/sào bắc bộ cao hơn 6.532.000 đồng/ha so với khi canh tác giống DT 22 29.580.000 đồng/ha tương đương với 1.064.000 đồng/sào. Giống lúa nếp NT 202 mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất nếp DT22 là 18,09%.Vụ mùa 2019 sản xuất 1 ha nếp NT 202 thu được lãi ròng là 34.429.000 đồng, tương đương với 1.238.000 đồng/sào bắc bộ cao hơn 5.489.000 đồng/ha so với khi canh tác giống DT 22 28.940.000 đồng/ha tương đương với 1.041.000 đồng/sào. Giống lúa lúa nếp NT 202 mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất nếp DT 22 là 16%.</p>
<p style="text-align: justify;">
	Mô hình sản xuất thử giống lúa nếp NT 202 tăng hiệu quả kinh tế từ 10 - 15% so với giống DT 22. Năm 2019, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã liên kết với Công ty TNHH Nông nghiệp HT Việt Nam thu mua sản phẩm thóc nếp NT 202 đạt gần 300 tấn/vụ so với sản lượng thóc gạo được sản xuất khoảng 301 - 306 tấn/vụ đạt tỷ lệ từ 94,1 - 98,7%.</p>
<p style="text-align: justify;">
	Giống NT 202 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm ngắn ngày, ngắn hơn DT 22 từ 10-15ngày, có khả năng chống chịu khá với các loại sâu bệnhhại chính trong điều kiện tự nhiên; cứng cây, chống đổ tốt, trỗ nhanh 5 - 7 ngày, thoát cổ bông tốt. Độ thuần đồng ruộng giống lúa nếp NT 202 tốt,có năng suất thực thu bình quân các điểm đạt 60,4 tạ/ha trong điều kiện vụ xuân và 61,5 tạ/ha; mùa 2019 cao hơn đối chứng DT 22 ở cả 2 vụ từ 7 - 18% và hiệu quả kinh tế tăng so với giống lúa DT 22 là từ 16 - 18%.Giống lúa nếp NT202 có chất lượng gạo và xôi tốt tương tụ như đối chứng DT22 nên phù hợp với nhu cầu nội tiêu và xuất khẩu. Giống lúa nếp NT202 đạt năng suất cao hơn 60 tạ/ha. Ban chủ nhiệm đề tài đã liên kết tiêu thụ được 585tấn thóc nếp NT 202 chiếm 96,3% tổng sản lượng thu được của mô hình góp phần nâng cao thu nhập từ nghề trồng lúa cho người dân.</p>
<p style="text-align: justify;">
	Bài của Bảo Châu</p>
<p style="text-align: justify;">
	Đăng trên Bản tin Khoa học và Công nghệ Hải Dương số 1+2 ra tháng 6/2020</p>
]]>
            </description>
            
        </item>
        
        <item>
            <title>Mô hình chăn nuôi thương phẩm giống vịt Star 53 và TS132 </title>
            <link>https://dost.haiphong.gov.vn/ban-tin-kh-cn/khoa-hac-va-cang-ngha-sa-1-2-2020/ma-hanh-chan-nuai-thuong-pham-giang-vat-star-53-va-ts132-12592.html</link>
                        <guid isPermaLink="false">
                <![CDATA[ban-tin-kh-cn_12592]]>
            </guid>
            
                        <pubDate>Tue, 21 Jul 2020 00:07:54 GMT</pubDate>
            
            
            <description>
                <![CDATA[<img src="https://dost.haiphong.gov.vn/uploads/ban-tin-kh-cn/images/ANHTAPCHI/vietsrat53.jpg" width="100" align="left" border="0"><p style="text-align: justify;">
	Hiện nay ở tỉnh ta chăn nuôi vịt ngoài việc nuôi nhỏ lẻ, đã có một số nơi hình thành mô hình nuôi tập trung theo quy mô trang trại như xã Bình Xuyên, Thái Hòa, (huyện Bình Giang), xã Ngô Quyền, Tân Trào, Đoàn Kết (huyện Thanh Miện), xã Nam Tân, Hiệp Cát, Quốc Tuấn (huyện Nam Sách),...và ngày càng được mở rộng. Nhu cầu về giống thủy cầm có năng suất và chất lượng ngày càng được chú trọng và đang là nhu cầu cần thiết cho các hộ chăn nuôi.&nbsp;</p>
]]>
            </description>
            
        </item>
        
        <item>
            <title>Hải Dương&#x3A; Mô hình sản xuất rau, củ, quả theo phương pháp hữu cơ </title>
            <link>https://dost.haiphong.gov.vn/ban-tin-kh-cn/khoa-hac-va-cang-ngha-sa-1-2-2020/hai-duong-ma-hanh-san-xuat-rau-ca-qua-theo-phuong-phap-hau-co-12590.html</link>
                        <guid isPermaLink="false">
                <![CDATA[ban-tin-kh-cn_12590]]>
            </guid>
            
                        <pubDate>Mon, 20 Jul 2020 20:07:26 GMT</pubDate>
            
            
            <description>
                <![CDATA[<img src="https://dost.haiphong.gov.vn/uploads/ban-tin-kh-cn/images/ANHTAPCHI/rauhueucoquantao.jpg" width="100" align="left" border="0"><p style="text-align: justify;">
	Sản xuất nông nghiệp theo phương pháp hữu cơ hay sản phẩm đạt được là sản phẩm hữu cơ mang tính chất tự nhiên, truyền thống lâu đời của con người, đặc biệt là không có tác động của hóa chất trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng. Sản xuất rau, củ, quả theo phương pháp hữu cơ nhằm giải quyết các vấn đề giảm thiểu tối đa ô nhiễm do sản xuất gây ra cho môi trường; duy trì sự đa dạng hóa nguồn gene; duy trì độ mầu mỡ lâu dài cho đất, nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo vệ niềm tin tuyệt đối cho người tiêu dùng; đáp ứng nhu cầu thực phẩm an toàn đối với phân khúc thị trường khó tính trong nước và xuất khẩu; đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, kinh doanh và bảo vệ sức khỏe sinh thái cho cả cộng đồng.</p>
]]>
            </description>
            
        </item>
        
        <item>
            <title>Hải Dương&#x3A; Sản xuất cây rau màu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu phục vụ các doanh nghiệp</title>
            <link>https://dost.haiphong.gov.vn/ban-tin-kh-cn/khoa-hac-va-cang-ngha-sa-1-2-2020/hai-duong-sain-xuait-cay-rau-maiu-dait-tiau-chuain-xuait-khaiu-phuic-vui-caic-doanh-nghiaip-12589.html</link>
                        <guid isPermaLink="false">
                <![CDATA[ban-tin-kh-cn_12589]]>
            </guid>
            
                        <pubDate>Mon, 20 Jul 2020 20:07:31 GMT</pubDate>
            
            
            <description>
                <![CDATA[<img src="https://dost.haiphong.gov.vn/uploads/ban-tin-kh-cn/images/ANHTAPCHI/rauantoanxuatkhau.jpg" width="100" align="left" border="0"><p style="text-align: justify;">
	Hải Dương là tỉnh có truyền thống sản xuất rau vụ đông đứng đầu các tỉnh phía Bắc. Năm 2019, diện tích sản xuất rau của toàn tỉnh khoảng 31.335,5 ha, sản lượng rau đạt 648.606 tấn, chiếm khoảng 3,3% tổng diện tích sản xuất và 4,2% về sản lượng rau cả nước. Sản xuất cây rau tại Hải Dương có nhiều thuận lợi: Nông dân Hải Dương có tập quán canh tác, có trình dộ kỹ thuật cao trong sản xuất cây rau, đặc biệt là các cây rau có hiệu quả cao, như: cây cà rốt, cải bắp, súp lơ, hành tỏi...Tuy nhiên, việc liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rau hàng hóa chất lượng cao còn nhiều bất cập:</p>
]]>
            </description>
            
        </item>
        
        <item>
            <title>Hải Dương&#x3A;  Xây dựng vùng sản xuất lúa giống mới, giá trị cao gắn với tiêu thụ sản phẩm</title>
            <link>https://dost.haiphong.gov.vn/ban-tin-kh-cn/khoa-hac-va-cang-ngha-sa-1-2-2020/hai-duong-xay-dang-vang-san-xuat-laa-giang-mai-gia-tra-cao-gan-vai-tiau-tha-san-pham-12585.html</link>
                        <guid isPermaLink="false">
                <![CDATA[ban-tin-kh-cn_12585]]>
            </guid>
            
                        <pubDate>Mon, 20 Jul 2020 19:07:54 GMT</pubDate>
            
            
            <description>
                <![CDATA[<img src="https://dost.haiphong.gov.vn/uploads/ban-tin-kh-cn/images/ANHTAPCHI/luahiakloc102.jpg" width="100" align="left" border="0"><p style="text-align: justify;">
	Hải Dương là tỉnh có đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp nhất là trồng lúa. Toàn tỉnh có hơn 125.000 ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có khoảng trên 60.000 ha đất trồng lúa ổn định đảm bảo an ninh lương thực trong tỉnh. Sản lượng thóc của tỉnh vẫn duy trì ở mức 750.000 tấn/năm. Để xây dựng được mô hình sản xuất lúa hàng hóa ngoài các yếu tố về quy hoạch vùng sản xuất, công nghệ chế biến, quảng bá sản phẩm, góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất lúa, tăng thu nhập cho người nông dân, đồng thời có thể tạo thương hiệu gạo thơm, gạo chất lượng cao cho các vùng chuyên canh sản xuất lúa hàng hóa trên địa bàn tỉnh.</p>
]]>
            </description>
            
        </item>
        
        <item>
            <title>Hiệu quả đào tạo bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, công chức  cấp xã giai đoạn 2010 - 2019</title>
            <link>https://dost.haiphong.gov.vn/ban-tin-kh-cn/khoa-hac-va-cang-ngha-sa-1-2-2020/hiau-qua-dao-tao-bai-duang-sa-dang-can-ba-cang-chac-cap-xa-giai-doan-2010-2019-12581.html</link>
                        <guid isPermaLink="false">
                <![CDATA[ban-tin-kh-cn_12581]]>
            </guid>
            
                        <pubDate>Mon, 20 Jul 2020 18:07:02 GMT</pubDate>
            
            
            <description>
                <![CDATA[<img src="https://dost.haiphong.gov.vn/uploads/ban-tin-kh-cn/images/ANHTAPCHI/daotaocanbocongchuwc.jpg" width="100" align="left" border="0"><p style="text-align: justify;">
	Trong những năm qua, tỉnh Hải Dương luôn quan tâm đến công tác đào tạo bồi dưỡng (ĐTBD), sử dụng cán bộ, công chức (CBCC) cấp xã. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan nên hiệu quả của công tác ĐTBD, sử dụng CBCC cấp xã còn một số hạn chế như: Nội dung chương trình ĐTBD chưa đảm bảo yêu cầu năng lực, hoạt động thực tiễn cũng như rèn luyện tư tưởng, đạo đức tác phong cho đội ngũ CBCC cấp xã, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, nặng về truyền đạt kiến thức; đội ngũ tham gia ĐTBD CBCC cấp xã còn có hạn chế nhất định; việc sử dụng CB sau đào tạo chưa gắn với việc xem xét, đánh giá kết quả ĐTBD, có nơi chưa gắn với quy hoạch cán bộ....</p>
]]>
            </description>
            
        </item>
        
    </channel>
</rss>